Số lượng hồ sơ xin nhập quốc tịch diện đầu tư chưa bao giờ tăng mạnh như trong giai đoạn khủng hoảng

Trong phân tích này, Luật gia Michael B. Krakat cho rằng, trong thời kỳ khủng hoảng, sự e ngại của một số bộ phận xã hội về các chương trình Đầu Tư Nhập Quốc Tịch có xu hướng giảm dần và điều này là cơ hội cho việc bùng nổ.

Trong trường hợp luật Đầu Tư Nhập Quốc Tịch có giá trị về mặt hiến pháp, các chương trình Đầu Tư Nhập Quốc Tịch cụ thể tập trung vào các khía cạnh giao dịch, hợp đồng và bản chất pháp lý của quyền công dân, và ít tập trung vào ‘khế ước xã hội’ của chính trị tập thể. Điều này là cần thiết vì luật Đầu Tư Nhập Quốc Tịch ( Citizenship By Investment ) cấp các lối tắt đáng kể hoặc miễn trừ đặc biệt cho các yêu cầu nhập tịch rườm rà. Những người chỉ trích CBI thường không đề cập đến luật pháp mà là về yếu tố chính trị của CBI, đề cập đến khía cạnh bản sắc của quyền công dân, các lập luận xem như một loại hàng hóa xét cho cùng cũng là các mối quan tâm chính trị.

Lo ngại vể việc ngừng tiếp nhận hồ sơ các chương trình CBI trong giai đoạn khủng hoảng.

Trong mọi trường hợp, những mối quan tâm này cần được giải đáp bằng việc nhấn mạnh mục đích của việc tạo ra doanh thu đó. Việc nhận hồ sơ nội địa và quốc tế của CBI, ngay cả những chỉnh sửa bổ sung (nếu cần) cho việc cung cấp quyền công dân, dường như đặc biệt phù hợp và trở thành một nhu cầu mạnh mẽ trong thời gian khủng hoảng.

Trong thời gian xảy ra thảm họa, những lo ngại về khả năng tiếp nhận và tiếp nhận thực tế hồ sơ CBI của những công dân hiện tại, cũng như toàn thế giới nói chung, có thể ít nhiều bị gián đoạn. Đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng, khi quốc gia có chủ quyền thường hành động để bảo vệ quyền lực hiện có của mình.

Các cuộc thảo luận về mức độ phù hợp và khả năng chấp nhận về mặt đạo đức hoặc chính trị của CBI không nên bỏ qua các lý do tại sao một quốc gia rao bán quyền công dân lại tham gia vào ‘thị trường toàn cầu cho các quyền thành viên’. Một lần nữa, điều này không có nghĩa là việc thực hiện chương trình CBI ngày nay cần sự biện minh trong bất kỳ hoàn cảnh nhất định nào; đúng hơn là các trường hợp, tại bất kỳ thời điểm nào, không bao giờ được bác bỏ.

Tính hợp hiến hoặc hợp lệ của quyền công dân được mua trực tiếp (hoặc tình trạng cư trú), ngoài việc có các yêu cầu về sự hiện diện thể chất hoặc tạm thời, có thể phụ thuộc vào hoàn cảnh pháp lý của từng chính thể cụ thể tham gia vào thực tiễn.

Tiếp nhận cho những ai?

Độc giả của Imidaily có lẽ đã rất quen với sự khó khăn của thị trường CBI để được chấp thuận, cả cá nhân cũng như tổ chức, có thể thấy rõ thông qua việc xem xét của OECD hoặc Ủy Ban Châu Âu EU, hoặc những tuyên bố và thông tin về CBI trên truyền thông. Tuy nhiên, hiệu lực của luật CBI không luôn phụ thuộc vào ý kiến hoặc tình cảm của bên thứ ba.

Vấn đề khó khăn hơn là khi hầu hết hoặc một phần người dân hoàn toàn không đồng ý với chương trình. Điều này một mặt là do người dân có khái niệm chủ quyền (chẳng hạn như dưới hình thức chủ quyền phổ biến), cũng như vì một phần dân số đã thường trú của một quốc gia.

Chủ quyền quốc gia, như được công bố trong Công ước Montevideo năm 1933 (và trước đó ở dạng thô sơ, bởi Luật gia Georg Jellinek) bao gồm các yếu tố liên quan và tạo nên quốc gia như sau:

Một lượng dân số thường trú, một lãnh thổ xác định và một chính phủ thực thi quyền lực, với khả năng bổ sung để tham gia quan hệ với các quốc gia khác xuất phát từ quyền lực đó.

Như vậy việc chấp nhận RCBI từ chính người dân của quốc gia là cực kỳ quan trọng.

Tương tự như vậy, xung đột nảy sinh khi tạo ra sự phân cấp quốc tịch hoặc (các) hạng công dân, đặc biệt khi hiến pháp của một quốc gia nói về “một công dân trọn vẹn” (hầu hết các hiến pháp, nếu không phải là tất cả). Ở đây, quốc tịch theo diện đầu tư có thể phải đối mặt với những hạn chế mà các công dân khác không có, chẳng hạn như việc công bố thông tin cá nhân trên sổ đăng ký, yêu cầu duy trì đầu tư tài sản hoặc các hạn chế tham gia vào hành chính nhà nước hoặc bỏ phiếu.

Chương trình CBI có thể gặp phải một số vấn đề nội bộ về tính hợp pháp đối với những công dân hiện tại của quốc gia đó. Ngoài ra, tất cả tùy thuộc vào khu vực cụ thể, có thể không hoàn toàn rõ ràng liệu quyền công dân thông qua các chương trình CBI có thể bị thu hồi (hoặc ‘tước bỏ’) dễ dàng hơn so với việc không thông qua các chương trình CBI.

Trong bất cứ trường hợp nào, chương trình CBI hợp pháp hay không phụ thuộc trước nhất vào luật của quốc gia đó, không phải từ việc phán xét ngẫu nhiên từ lỗ hổng pháp lý ở một quốc gia khác. Một trái táo hư có thể không làm hư tất cả những trái táo khác. Bất cứ chương trình CBI nào cũng không hợp pháp hơn hoặc kém hợp pháp đi chỉ vì việc so sánh với những chương trình khác có hoặc (hoặc từng) liên quan đến những sai trái về mặt pháp luật. Nhìn chung, danh tiếng của CBI đã tăng đáng kể thời gian qua, một lần nữa, phụ thuộc vào hoàn cảnh của các quốc gia liên quan.

Tất nhiên không có “bình đẳng trong việc vi phạm” và sai trái không thể biện minh bởi việc một quốc gia khác đã chấp thuận điều đó. Việc quản lý RCBI trước nhất là nhiệm vụ nội bộ của mỗi quốc gia hoạt động chương trình. Thêm vào đó, các quy tắc hành nghề toàn cầu liên quan đến các chương trình RCBI đang phát triển mạnh mẽ, có thể kể đến như “Quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp IMC, Quy tắc kỷ luật, hoặc Chính sách chống hối lộ và tham nhũng, đều rất hữu ích trong khía cạnh này.

Nguyên lý của khủng hoảng

Đại dịch toàn cầu có thể kéo dài, biến đổi khí hậu, suy thoái kinh tế hoặc bất kỳ loại thiên tai nào khác mà một quốc gia có chủ quyền có thể muốn giảm thiểu bằng cách khai thác các nguồn thu đa dạng: Việc bán bất động sản hoặc quyền công dân gia tăng mạnh mẽ trong thời kỳ khủng hoảng.

Khủng hoảng có thể giảm bớt cũng như nâng cao quyền tự do của mỗi cá nhân, và là một vấn đề tranh luận cần được trao đổi một cách thận trọng. Chúng ta cũng không nên để cuộc khủng hoảng là lí do cho việc hạ thấp tiêu chuẩn trong các chương trình CBI. Điều được đề xuất ở đây không phải là bất cứ điều gì đã xảy ra mà là việc vận hành CBI cần được xem xét một cách kỹ càng, tổng thể, cùng với tình hình dịch DOVID-19 hiện tại.

Nhiều hiến pháp có các điều khoản về khủng hoảng cho phép giới thiệu chương trình CBI, khả năng chấp nhận và tính hợp lý của chúng được nâng cao trong thời kỳ khủng hoảng.

Phần lớn có thể phụ thuộc vào định nghĩa ‘khủng hoảng’; có thể nói hầu hết nếu không phải tất cả các quốc gia đều có thể đang trải qua một số hình thức khủng hoảng hiện tại, chỉ bởi cách tồn tại đơn thuần của chúng. Khi các quy trình thích hợp được thực hiện để bảo vệ Quy tắc của Pháp luật, những hồ sơ cho RCBI trước khi khủng hoảng là nhiều nhưng thậm chí còn tăng mạnh hơn khi các quốc gia cần nguồn thu thông qua việc bán quyền công dân, tức là quyền cư trú hoặc quốc tịch.

Hay như diễn giải của cựu Thủ tướng Malta, Hon. Joseph Muscat, tại Diễn đàn Đầu tư Định cư năm 2016 ở Geneva, một quốc gia nên tham gia RCBI từ vị thế vốn có và tạo ra thêm nguồn tài chính RCBI cho quỹ tương ứng chứ không phải thay cho một nền kinh tế đang hoạt động.

Theo Imidaily.com